đàn bà trong tranh. Mừng quá chúng vội đưa kiệu rước
về kinh đô, mặc kệ cho người chồng vật mình than khóc.
Sau khi bị bắt vào cung, người đưàn bà không cười không nói,
áo đẹp không mặc, đầu không chưải và không cho một ai đến gần.
Đem được người đẹp về cung, nhà vua hết sức mừng rỡ, nhưng cũng
hết sức buồn phiền vì mọi thứ dỗ dành, dọa nạt đều không thể làm
cho người ngọc nở một nụ cười. Vua bèn hạ lệnh cho rao trong dân
chúng hễ ai có cách gì làm cho nàng cười nói lên được, thì sẽ ban
thưởng cho quan cao lộc hậu. Nghe tin này, có nhiều người, từ những
vai hề nổi tiếng, những ông trạng cười cho đến các bậc lương y, các
pháp sư phù thủy v.v... đua nhau trẩy kinh hy vọng dùng tài phép
làm cho người đưàn bà phải buột miệng nói cười để mong ân thưởng.
Nhưng dù đưã giở đủ mọi trò, đều vô hiệu.
Lại nói chuyện anh chồng từ khi vợ bị quan quân bắt đi thì
không còn thiết làm ăn gì nữa. Khi nghe tin loan báo ai làm cho
người đẹp trong cung nói cười được thì vua sẽ ban thưởng, anh biết là
vợ mình đưang ở cung vua, bèn quyết vào kinh tìm vợ. Trước khi đi,
anh nhổ mấy củ hành ở cạnh giếng buộc làm một gánh, quảy theo.
Đến kinh đô, anh quảy gánh của mình đi lại trước cửa hoàng cung
rao to lên những câu:
Dọc bằng đòn gánh
Củ bằng bình vôi
Ai mưua hành tôi
Thì thương tôi với!
Tiếng rao của anh vọng vào cung mỗi lúc một lớn. Nét mặt của
vợ anh tự nhiên cũng mỗi lúc mỗi tơi. Cuối cùng, nàng quay lại bảo
thị nữ:
- Hãy gọi người hàng hành vào cho ta!
Khi nhìn thấy mặt chồng, vợ anh cười lên một tiếng. Thấy
người đàn bà lần đầu tiên cười nói, vua sung sướng như mở cờ trong
bụng; lại thấy những cây hành to lớn lạ thường thì lấylàm kinh ngạc.
Vua ngỡ là nhờ những cây hành kỳ lạ này mà người đẹp nói cười.
Vua liền nẩy ra ý nghĩ mưuốn tự mình cải trang gánh hành để làm
vui lòng người đẹp. Vua bảo anh chồng:
- Hãy đặt gánh hành lại đó và cởi áo ra mau!
Vua cởi áo long bào vứt cho anh và mặc áo của anh vào. Vua
còn bắt anh bày cho mình học thuộc câu rao, rổi quảy gánh qua lại
trước mặt người đưàn bà, cất tiếng rao mới học được. Thấy vậy, vợ
anh hàng hành cười nghặt nghẽo. Vua thích thú lại càng làm già.
Nhưng đột nhiên người đàn bà bảo thị nữ thả đưàn chó ra. Chó thấy
vua ngỡ là người lạ liền nhảy xổ tới cắn chết. Người đàn bà vội bảo
chồng:
- Mình hãy mau mau trèo lên ngai vàng đi!
Anh chồng lật đật trèo lên ngai vàng giữa lưúc trăm quan và
cung nữ rập đầu bái mạng. Từ đó anh làm vua và ở với vợ trọn đời.
ÂM DƯƠNG GIAO CHIẾN
Ngày ấy, có một trận ma lụt rất dữ dội; khúc đê ở xưa Thọ
Triền bị vỡ, mùa màng hư hại, nhà cửa súc vật trôi nổi theo dòng
nước bạc. Một ông quận công họ Điền được lệnh vua đi đốc suất dân
phu hàn lại đoạn đê đó. Thuyền của ông sắp đến khúc sông làng Kim
Lưũ, bọn thuỷ thủ bảo ông rằng:
- ở đây có miếu Thuỷ Thần rất thiêng, ai có thuyền qua đây
phải ghé vào làm lễ mới có thể đi được. Vậy xin ngài hẵng cũng Thuỷ
Thần để đi cho được yên ổn.
Quận công vốn là một nhà bác học uyên thâm lại thông thạo
phép phù thuỷ nên vừa nghe nói thì trừng mắt bảo họ:
- Ta đây phụng mệnh vua đi làm việc nước. Dù hắn là thần đi
chăng nữa, dám cản ta .
Nói xong cứ thúc thuỷ thủ chèo đi mà không ghé vào đền.
Lúc đó thuỷ thần đang ở bờ sông nghe nói thế, tức mình bèn
hoá phép bắt thuyền đứng lại. Bọn thuỷ thủ cố chèo mãi nhưng mấy
chiếc thuyền không tiến lên được bước nào. Biết là thuỷ thần bắt đầu
ngăn trở công việc của mình, quận công sai ghé thuyền lại gần đền,
rồi đứng trước mũi thuyền lớn tiếng thoá mạ thuỷ thần mà bảo rằng:
- Nhà người ngự trị ở một phương này, nhân dân hương khói
luôn năm không khi nào tắt. Vậy mà đã không biết giúp dân để cho
đê vỡ làm sinh linh trôi nổi khốn khổ, lại còn ngăn cản công việc hàn
đê của ta, nghĩa là thế nào. Nhà ngươi biết điều thì hãy giúp ta làm
cho xong việc, nếu không ta sẽ cho người phá đền đi đó.
Nghe nói thế, thuỷ thần nổi giận bèn sai xuất hiện trên sông
năm chiếc thuyền đầy những quân hình người mặt cá cầm giáo mác
vây xung quanh mấy chiếc quan thuyền. Quận công họ Điền không
lấy thế làm lo sợ, liền giở phép phù thủy: ngồi trong thuyền chỉ gơm,
đưánh quyết, niệm chú, vẽ bùa rồi ra lệnh cho lính tráng của mình
bắn tên, lao thương vào địch. Hai bên giao chiến kịch liệt. Thuỷ thần
thấy khó lòng thắng nổi, bèn làm trời đất mù mịt khắp cả một vùng
ước đến một trống canh. Khi trời sáng ra, mọi người thấy năm chiếc
thuyền kia đưã biến mất. Rồi sau đó, đoàn quan thuyền cũng tiến
được đến chỗ đê vỡ.
Nhưng thuỷ thần vẫn tức mình, cố sức đuổi theo để phá cho
được. Quận công dốc suất quân phu thuyền bè quyết đắp nổi đê. Khi
đê vừa hàn xong, mọi người sửa soạn ra về thì thuỷ thần sai các
giống cá lớn, húc vào chỗ đê mới đắp làm cho đất long lở trôi đi.
Riêng thuỷ thần hoá làm một con cá chép rất lớn, nổi lên mặt nước
giương vây như cánh buồm. Cá vùng vẫy mấy cái, sóng nổi ầm ầm,
nước đưánh vào chỗ hàn đê rất dữ. Thế là công phu khó nhọc của bao
người lại trôi theo dòng nước. Quận công vẫn không nản chí, lại bắt
dân phu huyện khác đổ tới đắp. Cũng như lần trước, lần này sắp
thành công lại bị thuỷ thần ngấm ngầm phá hoại.
Mọi người nản lòng, khuyên quận công hãy đấu dịu để khỏi khổ
dân. Quận công đành phải đến miếu thuỷ thần khấn rằng:
- Hôm trước tôi qua miếu trót lỡ lời nói mấy câu xúc phạm. Vậy
mong ngài nguôi giận phù hộ cho muôn dân đỡ khổ. Đắp xong tôi sẽ
tạ lễ ngài.
Lần này đê hàn rất nhanh và rất chắc, to gấp hai đê cũ. Công
việc chả mấy chốc hoàn thành. Khi tất công, Quận công cho thuyền
đến trước đền nói to lên:
- Bớ thuỷ thần! Lần trước ta lừa ngươi đó thôi. Ta đâu có sợ
ngươi. Bây giờ đê ta hàn xong và rất vững dù có trăm thuỷ thần cũng
không làm gì nổi.
Nghe thấy thế thuỷ thần giận sôi lên, đêm ấy làm nổi sóng lên
rất dữ, vì thế đê lại bị sạt một đoạn lớn. Quận công tức mình nói
rằng:
- à đã thế, tao quyết trị đến nơi cho mày biết tay.
Nói rồi, ông sai mấy thuỷ thủ giỏi đi điều tra khúc sông đó. Họ
về cho ông biết ở gần đoạn đê vỡ có một cái vực sâu là sào huyệt thủ
hạ của thuỷ thần. Quận công lập tức ra sức cho các làng nạp tre, gỗ
để đóng cừ xung quanh vực. Đoạn dựng mấy lò vôi, sai quân và dân
đi lấy đá trắng về nung, mẻ này tiếp mẻ khác. Quận công còn trưng
dụng tất cả các thuyền bè đi chở đá tảng, gạch ngói cối đá thủng v.v..
đưa về chất bên này vực cao như một hòn đồi. Bên kia vực đá vôi
nung cũng đổ cao như một hòn đồi. Rồi đó Quận công sai một bên
ném đá vôi, một bên ném gạch đã vụn. Nước sôi lên sùng sục. Bọn
thủ hạ thuỷ thần đội lốt thuỷ tộc không kịp chưạy trốn, chết nổi lềnh
bềnh trên mặt nước vô số. Đoạn ông mới quay sang hàn đê. Quả
nhiên nhờ có việc lấp vực nên đê hàn xong ngay.
Thuỷ thần thù Điền Quận công vô hạn. Hắn quyết chí ám hại
ông. Hơn một tháng sau hắn làm cho Quận công ốm nặng. Trên
giường bệnh, người Quận công cứ nóng như lửa. Nhà vua phái các
danh sư tới nhà, thuốc men điều trị nhưng bệnh ngày càng trầm
trọng. Sau đó thì chết. Quận công có một người chị là Ngô Thuận Phi
lấy vua. Một hôm Quận công ứng đồng ở làng mình nói:
- Ta mắc kế độc của thuỷ thần mà chết. Ta quyết báo thù chứ
không chịu thua. Hãy báo giúp với chị ta sắn sửa voi ngựa khí giới để
ta trả thù.
Nghe tin báo, Ngô Thuận Phi làm theo lời em và khấn:
Dầu được hay chưa, em cũng tin cho chị biết!
Từ khi được voi ngựa, thuyền bè, khí giới, quận công giao chiến
với thuỷ thần nhiều trận kịch liệt. Người ta thấy trước đền thuỷ thần
sóng gió ầm ầm, nước bắn tứ tung bọt nổi trắng xoá cả một vùng mặt
sông. Các loài tôm cá tập hợp rất đông, thỉnh thoảng chạy giạt từ
nhánh sông này sang nhánh sông kia. Sau cùng lại thấy sóng gió im
lặng, các loài thuỷ tộc chết nổi lên nhiều lắm, những con còn lại cũng
bỏ trốn khắp nơi. Khúc đê sạt ở làng Thọ Triền sau đó không vỡ thêm
nữa.
ít lâu sau đó, Quận công báo mộng cho chị mình biết mình mấy
lần đưánh với thuỷ thần, thắng thì có thắng, nhưng thế lực của hắn
vẫn còn mạnh lắm. Vậy nhờ chị hãy lập cho một ngôi đền để ở, hẵng
tạm đình chiến một thời gian.
Từ đó ngôi đền thuỷ thần cũng không thiêng như trước.


ANH CHÀNG HỌ ĐÀO
Ngày xưa ở huyện Đông Sơn có một anh học trò họ Đào. Anh
đẹp trai, học giỏi, chỉ phải một tội nhà rất nghèo. Thường ngày anh
cắp sắch sang làng bên cạnh học với một ông đồ. Nhưng cũng có
những lưúc anh phải đi làm thuê, làm mướn để kiếm tiền gạo nuôi
thân. Cuộc sống bữa no, bữa đói khát và vất vả. Trong năm năm,
mặc cho kẻ cười người chê, anh vẫn vừa làm vừa học, không chịu bỏ
dở. ở chỗ làng anh đến học, có một cô gái con nhà khá giả yêu anh và
cũng được anh yêu lại. Hai bên có tình ý với nhau như vậy đã được
vài năm.
ít lâu sau anh chàng họ Đào mượn mối đến dạm hỏi cô gái.
Nhưng cha mẹ cô gái chê anh nhà nghèo, không gả. Họ bảo thẳng
người mối:
- Nhà anh ấy có một thân một mình kiếm ăn còn chật vật. Con
gái tôi về đấy càng làm cho anh thêm bấn.
Khi người mối cho biết tài học của chàng có thể mai sau thay
đổi số phận, thì họ trả lời:
- Nếu thế, thì hãy đợi lúc ngựa xe võng lọng trở về hãy hay.
Thấy vậy, anh chàng họ Đào vừa giận vừa thẹn. Anh nghĩ bụng
phải bỏ nhà ra đi, quyết trí lập được công danh mới trở về để cho
chưa mẹ nàng không dám giở giọng khinh bạc với mình nữa. Nghĩ
vậy, anh bỏ nhà đến kinh đô. ở đấy, anh vẫn làm thuê, vừa học. Nhờ
sáng dạ, anh học rất tấn tới. Sau năm năm, anh đi thi đỗ luôn cử
nhân.
Hôm vinh quy trở về nhà, lòng anh mừng khấp khởi. Bụng bảo
dạ "Nhất định bố mẹ cô ta sẽ vui lòng gả con cho mình và hối hận về
những câu nói khinh người trước đây". Nhưng không ngờ, khi anh
đến chào thầy học cũ, người ta cho biết là cô gái, sau khi anh bỏ làng
ra đi, đã bị chưa mẹ ép gả cho một người làng, mặc dầu cô không ưng
thuận và có bụng chờ anh. Nghe nói, chàng họ Đào rất buồn. Anh bỏ
dự định đến nhà cha mẹ người yêu; cũng chẳng muốn đến nhà người
yêu vì sự gặp mặt lúc này chỉ càng làm anh thêm đau khổ và có thể
làm cho chồng nàng ngờ vực. Nhưng lúc trở về, trên đường đi giữa
cánh đồng, anh bỗng gặp nàng mang cơm ra đồng cho chồng. Hai
người dừng lại hàn huyên; họ 